THỬ HỌC TỪ VỰNG VỚI MỘT PHƯƠNG PHÁP MỚI
Việc học từ vựng vốn dĩ xưa nay với bất cứ người nào (thậm chí cả dân bản xứ) cũng là một việc không dễ dàng gì. Nếu bạn đã áp dụng tất cả các phương pháp mà vẫn không thấy tiến bộ thì hãy thử một cách học đơn giản mà vô cùng hiệu quả dưới đây nhé: Học từ vựng bằng kĩ thuật tách ghép từ.
Mời các bạn cùng đến với ví dụ sau đây:
Ví dụ: Brusque (adj): lỗ mãng, cộc cằn.
Đây là một từ tiếng Anh rất khó và hiếm gặp. Bạn sẽ làm thế nào để nhớ từ này nếu chỉ có cơ hội gặp nó một lần trong cuộc sống? Chúng ta hãy dùng kĩ thuật tách ghép từ để giải quyết vấn đề này nhé.
Trước tiên bạn hãy tách BRUSQUE ra thành BRUS và QUE. Tiếp đó, từ BRUS bạn hãy liên tưởng ra một từ nào đó dễ nhớ và gần với nó nhất ví dụ như BRUSH (bút vẽ) và tương tự QUE ta có thể liên tưởng thành QUEEN (nữ hoàng). Như bạn thấy, những từ như BRUSH (bút vẽ) và QUEEN (nữ hoàng) là những từ vô cùng đơn giản với những người đã học tiếng Anh.
Bây giờ bạn hãy tưởng tượng tại vương quốc của những cây bút vẽ, có một nữ hoàng ngự trị. Bà ta là một kẻ rất thô lỗ cộc cằn (Brusque) – nghĩa của từ bạn đang cần nhớ. Bạn có thể đặt một ví dụ đơn giản để minh họa cho những liên tưởng này.
----> The BRUSH QUEEN is very BRUSQUE
Nghe có vẻ rất hài hước và máy móc nhưng bạn đừng vội cười vì
đây là một cách học đầy sáng tạo và thú vị. Hãy thử đi! Bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên và thích thú với những hiệu quả mình sẽ đạt được trong một thời gian ngắn áp dụng.
Để học theo phương pháp này, bạn nên để cho trí tưởng tượng của mình thỏa sức phát triển. Hãy hình dung hình ảnh trong câu văn vừa rồi thành những gì sinh động nhất, thú vị nhất bạn tưởng tượng được ra trong đầu. Tưởng tượng và liên tưởng càng hay bao nhiêu, bạn càng nhớ từ lâu bấy nhiêu.
Điểm mấu chốt của “kỹ thuật tách ghép từ” là nó dựa trên những từ gốc của từ người học đang nghiên cứu, sau đó biến đổi một cách cố ý để giúp người học lần sau gặp lại có thể dựa trên các đầu mối để nhớ ra từ. Các bạn có bao giờ thốt lên “Ồ mình đã gặp từ này một vài lần rồi nhưng không nhớ được nghĩa là gì?” ? Rõ ràng chúng ta có ý thức đã gặp từ tiếng Anh này rồi, nhưng những manh mối của họ quá nhạt nhòa nên chỉ dừng ở cảm giác chứ không thể nhớ ra chính xác nghĩa của từ đó là gì. Sau khi dùng kỹ thuật tách ghép từ, mỗi khi nhìn vào một từ nào đã từng học, những từ ngữ bị tách lập tức sẽ biến thành manh mối dẫn người học tới nghĩa chính xác của từ. Để giúp các bạn hiểu hơn về kĩ thuật này, mời các bạn cùng thực hành thêm một số ví dụ sau đây:
+ AUGUR(v) tiên đoán - Hãy nghĩ tới AUGUST (Tháng 8)
Tưởng tượng: Một vị pháp sư có khả năng AUGUR (tiên đoán) những gì xảy ra trong AUGUST (tháng 8)
+ BERATE (v) nghiêm trách, trừng trị - Hãy nghĩ tới BE-A-RAT (một con chuột)
Tưởng tượng: Một cậu bé vì quá nghịch ngợm nên đã bị bà tiên trừng phạt, bà tiên BERATE (trừng phạt) cậu bằng cách MAKE HIM BE A RAT (biến cậu thành một con chuột)
Nghe bằng tai
Khi đọc tiêu đề bài này, không ít người có ý nghĩ rằng “Chả nghe bằng tai thì bằng gì, điều đương nhiên thế còn gì để bàn luận nữa?” Ấy thế nhưng tôi dám đảm bảo rằng không phải ai cũng biết ngay bằng... tai theo đúng nghĩa đâu. Bài này tiếp tục giới thiệu những chia sẻ quý báu của cố nhà giáo Duy Nhiên về kĩ năng nghe tiếng Anh.
Tôi có một người bạn từng dạy Anh Văn ở Trung Tâm Ngoại Ngữ với tôi, sau này sang định cư ở Mỹ. Anh cùng đi với đứa con 7 tuổi, chưa biết một chữ tiếng Anh nào. 11 năm sau tôi gặp lại hai cha con tại Hoa Kỳ. Con anh nói và nghe tiếng Anh không khác một người Mỹ chính cống. Trong khi đó anh nói tiếng Anh tuy lưu loát hơn xưa, nhưng rõ ràng là một người nước ngoài nói tiếng Mỹ. Khi xem chương trình hài trên TV, con anh cười đúng với tiếng cười nền trong chương trình, trong khi đó anh và tôi nhiều khi không hiểu họ nói gì đáng cười: rõ ràng là kỹ năng nghe của con anh hơn anh rồi! Điều này chứng tỏ rằng khi sang Mỹ, anh đã có kinh nghiệm về tiếng Anh, và ‘khôn’ hơn con anh vì biết nhiều kỹ thuật, phương pháp học tiếng Anh, nên tiếp tục học tiếng Anh theo tiến trình phản tự nhiên; trong khi con anh, vì không ‘thông minh’ bằng anh, và thiếu kinh nghiệm, nên đã học tiếng Anh theo tiến trình tự nhiên mà không theo một phương pháp cụ thế nào để học vocabulary, grammar, listening, speaking cả.
Những phân tích sau đây là để thuyết phục các bạn đi vào tiến trình tự nhiên - và điều này đòi hỏi phải xóa bỏ cái phản xạ lâu ngày của mình là học theo tiến trình ngược - và công việc xóa bỏ cái phản xạ sai này lại làm cho ta mất thêm thì giờ. Các bạn đọc để tin vào tiến trình tự nhiên, chứ không phải để nhớ những phân tích học thuật này, khiến lại bị trở ngại thêm trong quá trình nâng cao kỹ năng của mình.
- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe nguyên âm: Tiếng Anh là tiếng phụ âm.
Tiếng Anh chủ yếu là ngôn ngữ đa âm: một từ thường có nhiều âm. Lỗ tai chúng ta đã ‘bị điều kiện hóa’ để nghe âm tiếng Việt. Tiếng Việt là loại tiếng đơn âm, vì thế, mỗi tiếng là một âm và âm chủ yếu trong một từ là nguyên âm. Đổi một nguyên âm thì không còn là từ đó nữa: ‘ma, mi, mơ’ không thể hoán chuyển nguyên âm cho nhau, vì ba từ có ba nghĩa hoàn toàn khác nhau. Mặc khác, tiếng Việt không bao giờ có phụ âm cuối từ. Ngay cả những chữ mà khi viết có phụ âm cuối, thì người việt cũng không đọc phụ âm cuối; ví dụ: trong từ ‘hát’, nguyên âm mới là ‘át’, h(ờ)-át, chứ không phải là h(ờ)-á-t(ơ), trong khi đó từ ‘hat’ tiếng Anh được đọc là h(ờ)-a-t(ờ), với phụ âm ‘t’ rõ ràng.
Trong tiếng Việt hầu như không có những từ với hai phụ âm đi kế tiếp (ngoài trừ ch và tr - nhưng thực ra, ch và tr cũng có thể thay bằng 1 phụ âm duy nhất) vì thế, tai của một người Việt Nam - chưa bao giờ làm quen với ngoại ngữ - không thể nhận ra hai phụ âm kế tiếp. Do đó, muốn cho người Việt nghe được một tiếng nước ngoài có nhiều phụ âm kế tiếp, thì phải thêm nguyên âm (ơ) vào giữa các phụ âm; ví dụ: Ai-xơ-len; Mat-xơ-cơ-va.
Với kinh nghiệm (phản xạ) đó, một khi ta nghe tiếng Anh, ta chờ đợi nghe cho đủ các nguyên âm như mình NHÌN thấy trong ký âm (phonetic signs), và không bao giờ nghe được cả. Ví dụ: khi học từ America ta thấy rõ ràng trong ký âm: /ə-me-ri-kə/, nhưng không bao giờ nghe đủ bốn âm cả, thế là ta cho rằng họ ‘nuốt chữ’. Trong thực tế, họ đọc đủ cả, nhưng trong một từ đa âm (trong khi viết) thì chỉ đọc đúng nguyên âm ở dấu nhấn (stress) - nếu một từ có quá nhiều âm thì thêm một âm có dấu nhấn phụ (mà cũng có thể bỏ qua) - và những âm khác thì phải đọc hết các PHỤ ÂM, còn nguyên âm thì sao cũng được (mục đích là làm rõ phụ âm). Có thể chúng ta chỉ nghe: _me-r-k, hay cao lắm là _me-rə-k, và như thế là đủ, vì âm ‘me’ và tất cả các phụ âm đều hiện diện. Bạn sẽ thắc mắc, nghe vậy thì làm sao hiểu? Thế trong tiếng Việt khi nghe ‘Mỹ’ (hết) không có gì trước và sau cả, thì bạn hiểu ngay, tại sao cần phải đủ bốn âm là ơ-mê-ri-kơ bạn mới hiểu đó là ‘Mỹ’? Tóm lại: hãy nghe phụ âm, đừng chú ý đến nguyên âm, trừ âm có stress!
Một ví dụ khác: từ interesting! Tôi từng được hỏi, từ này phải đọc là in-tơ-res-ting hay in-tơ-ris-ting mới đúng? Chẳng cái nào đúng, chẳng cái nào sai cả. Nhưng lối đặt vấn đề sai! Từ này chủ yếu là nói ‘in’ cho thật rõ (stress) rồi sau đó đọc cho đủ các phụ âm là người ta hiểu, vì người bản xứ chỉ nghe các phụ âm chứ không nghe các nguyên âm kia; nghĩa là họ nghe:in-trstng; và để rõ các phụ âm kế tiếp thì họ có thể nói in-tr(i)st(i)ng; in-tr(ơ)st(ơ)ng; in-tr(e)st(ư)ng. Mà các âm (i) (ơ), để làm rõ các phụ âm, thì rất nhỏ và nhanh đến độ không rõ là âm gì nữa. Trái lại, nếu đọc to và rõ in-tris-ting, thì người ta lại không hiểu vì dấu nhấn lại sang 'tris'!
Từ đó, khi ta phát âm tiếng Anh (nói và nghe là hai phần gắn liền nhau - khi nói ta phát âm sai, thì khi nghe ta sẽ nghe sai!) thì điều tối quan trọng là phụ âm, nhất là phụ âm cuối. Lấy lại ví dụ trước: các từ fire, fight, five, file phải được đọc lần lượt là fai-(ơ)r; fai-t(ơ); fai-v(ơ), và fai-(ơ)l, thì người ta mới hiểu, còn đọc 'fai' thôi thì không ai hiểu cả.
Với từ ‘girl’ chẳng hạn, thà rằng bạn đọc gơ-rôl / gơ-rơl (dĩ nhiên chỉ nhấn gơ thôi), sai hẳn với ký âm, thì người ta hiểu ngay, vì có đủ r và l, trong khi đó đọc đúng ký âm là ‘gơ:l’ hay bỏ mất l (gơ) thì họ hoàn toàn không hiểu bạn nói gì; mà có hiểu chăng nữa, thì cũng do context của câu chứ không phải là do bạn đã nói ra từ đó.
- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe âm Việt.
Các nguyên âm Việt và Anh không hề giống nhau. Một âm rất rõ trong tiếng Anh sẽ rất nhoè với một lỗ tai người Việt, và một âm rất rõ trong tiếng Việt thì rất nhoè trong lỗ tai người Anh (người bản xứ nói tiếng Anh). Ví dụ: Khi bạn nói: “Her name’s Hương!” Bạn đọc từ Hương thật rõ! Thậm chí la lên thật to và nói thật chậm thì người ấy vẫn không nghe ra. Vì ‘ươ’ đối với họ là âm rất nhoè. Nhưng nói là ‘Hu-ôn-gh(ơ)’ họ nghe rõ ngay; từ đó ta phải hiểu họ khi nói đến cô Huôngh chứ đừng đòi hỏi họ nói tên Hương như người Việt (phải mất vài năm!).
Tương tư như vậy, không có nguyên âm tiếng Anh nào giống như nguyên âm tiếng Việt. Nếu ta đồng hóa để cho dễ mình, là ta sẽ không nghe được họ nói, vì thế giới này không quan tâm gì đến cách nghe của người Việt Nam đối với ngôn ngữ của họ. Ví dụ: âm ‘a’ trong ‘man’ thì không phải là ‘a’ hay ‘ê’ hay ‘a-ê’ hay ‘ê-a’ tiếng Việt, mà là một âm khác hẳn, không hề có trong tiếng Việt. Phải nghe hàng trăm lần, ngàn lần, thậm chí hàng chục ngàn lần mới nghe đúng âm đó, và rất rõ! Ấy là chưa nói âm ‘a’ trong từ này, được phát âm khác nhau, giữa một cư dân England (London), Scotland, Massachusetts (Boston), Missouri, Texas!
Cũng thế, âm ‘o’ trong ‘go’ không phải là ‘ô’ Việt Nam, cũng chẳng phải là ô-u (như cách phiên âm xưa) hay ơ-u (như cách phiên âm hiện nay), lại càng không phài là ‘âu’, mà là một âm khác hẳn tiếng Việt. Phát âm là ‘gô’, ‘gơu’ hay ‘gâu’ là nhoè hẳn, và do đó những từ dễ như ‘go’ cũng là vấn đề đối với chúng ta khi nó được nói trong một câu dài, nếu ta không tập nghe âm ‘ô’ của tiếng Anh đúng như họ nói. Một âm nhoè thì không có vấn đề gì, nhưng khi phải nghe một đoạn dài không ngưng nghỉ thì ta sẽ bị rối ngay.
Đây cũng là do một kinh nghiệm tai hại xuất phát từ việc tiếp thu kiến thức. Trong quá trình học các âm tiếng Anh, nhiều khi giáo viên dùng âm Việt để so sánh cho dễ hiểu, rồi mình cứ xem đó là ‘chân lý’ để không thèm nghĩ đến nữa. Ví dụ, muốn phân biệt âm (i) trong sheep vàship, thì giáo viên nói rằng I trong sheep là ‘I dài’ tương tự như I trong tiếng Bắc: ít; còn I trongship là I ngắn, tương tự như I trong tiếng Nam: ít - ích. Thế là ta cho rằng mình đã nghe được I dài và I ngắn trong tiếng Anh rồi, nhưng thực chất là chưa bao giờ nghe cả! Lối so sánh ấy đã tạo cho chúng ta có một ý niệm sai lầm; thay vì xem đấy là một chỉ dẫn để mình nghe cho đúng âm, thì mình lại tiếp thu một điều sai! Trong tiếng Anh không có âm nào giống âm I bắc hoặc I nam cả! Bằng chứng: ‘eat’ trong tiếng Anh thì hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng bắc, và ‘it’ trong tiếng Anh hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc theo giọng nam! Vì thế, phải xóa bỏ những kinh nghiệm loại này, và phải nghe trực tiếp thôi!
- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng chữ viết.
Nếu ta hỏi một em bé: cháu nghe bằng gì? Thì nó sẽ trả lời: Nghe bằng tai! Nếu ta bảo: “Cháu phải nghe bằng mắt cơ!” Chắc em bé tưởng ta … trêu cháu! Thế nhưng điều xảy ra cho nhiều người học tiếng nước ngoài là Nghe Bằng Mắt!
Thử nhìn lại xem. Trong giai đoạn đầu tiếp xúc với tiếng Anh, khi ta nghe một người nói: “I want a cup of coffee!”. Tức tốc, chúng ta thấy xuất hiện câu ấy dưới dạng chữ Viết trong trí mình, sau đó mình dịch câu ấy ra tiếng Việt, và ta HIỂU! Ta Nghe bằng MẮT, nếu câu ấy không xuất hiện bằng chữ viết trong đầu ta, ta không Thấy nó, thì ta … Điếc!
Sau này, khi ta có trình độ cao hơn, thì ta hiểu ngay lập tức chứ không cần phải suy nghĩ lâu. Thế nhưng tiến trình cũng chẳng khác nhau bao nhiêu, ta vẫn còn thấy chữ xuất hiện và dịch, cái khác biệt ấy là ta viết và dịch rất nhanh, nhưng từ một âm thanh phát ra cho đến khi ta hiểu thì cũng thông qua ba bước: viết, dịch, hiểu. Khi ta đi đến một trình độ nào đó, thì trong giao tiếp không có vấn đề gì cả, vì các câu rất ngắn, và ba bước đó được 'process' rất nhanh nên ta không bị trở ngại, nhưng khi ta nghe một bài dài, thì sẽ lòi ra ngay, vì sau hai, ba, bốn câu liên tục 'processor' trong đầu ta không còn đủ thì giờ để làm ba công việc đó. Trong lúc nếu một người nói bằng tiếng Việt thì ta nghe và hiểu ngay, không phải viết và dịch (tại vì ngày xưa khi ta học tiếng Việt thì quá trình là nghe thì hiểu ngay, chứ không thông qua viết và dịch, vả lại, nếu muốn dịch, thì dịch ra ngôn ngữ nào?), và người nói có nhanh cách mấy thì cũng không thể nào vượt cái khả năng duy nhất của chúng ta là 'nghe bằng tai'.
Vì thế, một số sinh viên cảm thấy rằng mình tập nghe, và đã nghe được, nhưng nghe một vài câu thì phải bấm ‘stop’ để một thời gian chết - như computer ngưng mọi sự lại một tí để process khi nhận quá nhiều lệnh - rồi sau đó nghe tiếp; nhưng nếu nghe một diễn giả nói liên tục thì sau vài phút sẽ ‘điếc’. Từ đó, người sinh viên nói rằng mình ‘đã tới trần rồi, không thể nào tiến xa hơn nữa! Vì thế giới này không stop cho ta có giờ hiểu kịp’!’(1)
Từ những nhận xét trên, một trong việc phải làm để nâng cao kỹ năng nghe, ấy xóa bỏ kinh nghiệm Nghe bằng Mắt, mà trở lại giai đoạn Nghe bằng Tai, (hầu hết các du học sinh ở nước ngoài, sau khi làm chủ một ngoại ngữ rồi từ trong nước, đều thấy ‘đau đớn và nhiêu khê’ lắm khi buộc phải bỏ thói quen nghe bằng mắt để trở lại với trạng thái tự nhiên là nghe bằng tai! Có người mất cả 6 tháng cho đến 1 năm mới tàm tạm vượt qua).
- Xóa bỏ kinh nghiệm nghe bằng cấu trúc văn phạm.
Khi nghe ai nói, ta viết một câu vào đầu, và sửa cho đúng văn phạm, rồi mới dịch, và sau đó mới hiểu! Ví dụ. Ta nghe ‘iwanago’ thì viết trong đầu là ‘I want to go’, xong rồi mới dịch và hiểu; nếu chưa viết được như thế, thì iwanago là một âm thanh vô nghĩa.
Thế nhưng, nếu ta nghe lần đầu tiên một người nói một câu hằng ngày: igotago, ta không thể nào viết thành câu được, và vì thế ta không hiểu. Bởi vì thực tế, câu này hoàn toàn sai văn phạm. Một câu đúng văn phạm phải là ‘I am going to go’ hoặc chí ít là ‘I have got to go’. Và như thế, đúng ra thì người nói, dù có nói tốc độ, cũng phải nói hoặc: I'm gona go; hoặc I’ve gota go (tiếng Anh không thể bỏ phụ âm), chứ không thể là I gotta go! Thế nhưng trong thực tế cuộc sống người ta nói như vậy, và hiểu rõ ràng, bất chấp mọi luật văn phạm. Văn phạm xuất phát từ ngôn ngữ sống, chứ không phải ngôn ngữ sống dựa trên luật văn phạm. Do đó, ta cũng phải biết nghe mà hiểu; còn cứ đem văn phạm ra mà tra thì ta sẽ khựng mãi. (Tôi đang nói về kỹ năng nghe, còn làm sao viết một bài cho người khác đọc thì lại là vấn đề khác!)
Tóm lại, trong phần chia sẻ này, tôi chỉ muốn nhắc với các bạn rằng, hãy NGHE ĐIỀU NGƯỜI TA NÓI, CHỨ ĐỪNG NGHE ĐIỂU MÌNH MUỐN NGHE, và muốn được như vậy, thì HÃY NGHE BẰNG TAI, ĐỪNG NGHE BẰNG MẮT!
Cách phát âm của các nguyên âm
-
Hầu hết các chữ được viết là i (win) có phát âm là /i/, đôi khi y
cũng được phát âm như trên (Trừ trường hợp sau i có r – sau r không phải
là một nguyên âm).
-
Hầu hết các chữ được viết là er hoặc nguyên âm trong các âm tiết không có trọng âm thì được phát âm thành /ə/: teacher, owner...
-
Chữ u trong tiếng Anh có 3 cách phát âm: Phát âm là /u:/ (u dài) khi
đứng sau /j/ (June); phát âm là /ʊ/ hoặc /ʌ/ trong các cách viết khác
như full, sun. Khi từ có 2 chữ oo viết cạnh nhau thì hầu hết sẽ được
phát âm thành /u:/ trừ các trường hợp âm cuối là k: book, look, cook...
-
Các chữ cái được phát âm là /ɜ:/ thuộc các trường hợp sau: ir (bird),
er (her), ur (hurt). Ngoài ra còn có các trường hợp ngoại lệ or (word),
ear (heard)
-
Các chữ cái được phát âm là /ɔ:/ thuộc các trường hợp sau: or (form,
norm). Các trường hợp ngoại lệ khác: a (call), ar (war), au (cause), aw
(saw), al (walk), augh (taught), ough (thought), four (four).
-
Các chữ cái được viết là oy, oi sẽ được phát âm là /ɔɪ/. Ví dụ: boy, coin...
-
Các chữ cái được viết là ow, ou thường được phát âm là /əʊ/ hay /aʊ/,
tuy nhiên chúng cũng còn có nhiều biến thể phát âm khác nữa.
Samples:
Chọn từ mà phần gạch chân có cách phát âm khác với những từ còn lại1. A. heat B. seat C. great D. meat
2. A. book B. floor C. cook D. hook
3. A. circle B. brick C. fit D. fish
4. A. table B. lady C. captain D. labour
5. A. loudly B. without C. thousand D. thought
6. A. size B. grey C. life D.eye
7. A. so B. show C.who D. though
8. A. name B. flame C. man D. fame
9. A. earn B. third C. where D. dirty
10. A. bed B. get C. decide D. setting
Đáp án bài thi mẫu trong bài học Cấu tạo từ
1. Key: C
Hint: Từ cần điền là một danh từ (sau giới từ of) nên dependence và independence đều thỏa mãn yêu cầu. Bây giờ ta xét ý nghĩa của 2 từ dependence – sự phụ thuộc, independence – sự độc lập thì hiển nhiên đáp án là independence. “Cuộc kháng chiến giành độc lập của Mỹ thắng lợi năm 1776”
2. Key: B
Hint: Cả 4 phương án đều là danh từ được cấu tạo từ động từ break. Breakdown nói về sự hỏng hóc của máy móc, breakthrough là những phát kiến khoa học mới, breakup là sự đổ vỡ (trong gia đình), breakaway là sự chia ly, rời xa. Đáp án của câu chỉ có thể là breakthrough.
3. Key: C
Hint: Bổ nghĩa cho danh từ way là một tính từ nên economy và economically bị loại. Economic với nghĩa là “thuộc về kinh tế/mang tính chất kinh tế” còn economical lại nghĩa là “tiết kiệm”. Xét nghĩa của câu thì economical là phù hợp hơn cả. “Đốt than là một cách sưởi ấm cho ngôi nhà rất tiết kiệm”
4. Key: D
Hint: Từ few mang ý nghĩa phủ định chỉ một điều gì đó còn tồn tại rất ít từ đó ta suy ra được tính từ trong câu phải mang ý nghĩa phủ định - unexplored chính là đáp án của câu. (Nhận biết từ trái nghĩa qua tiền tố un).
5. Key: C
Hint: Từ hate (ghét bỏ) mang hàm nghĩa phủ định do đó danh từ (sau his) cũng phải mang ý nghĩa phủ định. Đáp án của câu là unreliability.
6. Key: D
Hint: Nghĩa của câu trên được dịch ra như sau: “Cảnh sát đang rất quan tâm đến sự biến mấtđột ngột của bức tranh giá trị đó”. Danh từ của động từ appear (xuất hiện) phải mang nghĩa ngược lại – disappearance là đáp án của câu. (Appear chỉ kết hợp được với tiền tố dis-).
7. Key: C
Hint: Từ điền vào ô trống là danh từ chỉ người dạng số nhiều – competitors là đáp án của câu.
8. Key: C
Hint: Các tổ hợp từ đều là dạng kết hợp của look – lookup (sự tra cứu), look-in (cái nhìn thoáng qua), outlook (viễn cảnh/ triển vọng trong tương lai), lookout không tồn tại dạng danh từ mà chỉ có cụm động từ to look out. Rõ ràng câu trên đề cập đến viễn cảnh trong tương lai nên đáp án sẽ là outlook.
9. Key: D
Hint: Bổ nghĩa cho động từ behave phải là một trạng từ tuy nhiên tell sb off có nghĩa là “rầy la, kể tội” thì trạng từ bổ trợ cho behave (nguyên nhân dẫn đến việc tell off) phải mang nghĩa phủ định – irresponsibly là đáp án của câu.
10. Key: D
Hint: Sau all là một danh từ số nhiều. Thông thường chúng ta nhận biết danh từ số nhiều bằng đuôi s tuy nhiên một số danh từ chỉ môn học (economics, politics...) có đuôi s nhưng không phải danh từ số nhiều. Đáp án của câu là politicians – chính trị gia.
Chọn từ mà phần gạch chân có cách phát âm khác với những từ còn lại1. A. heat B. seat C. great D. meat
2. A. book B. floor C. cook D. hook
3. A. circle B. brick C. fit D. fish
4. A. table B. lady C. captain D. labour
5. A. loudly B. without C. thousand D. thought
6. A. size B. grey C. life D.eye
7. A. so B. show C.who D. though
8. A. name B. flame C. man D. fame
9. A. earn B. third C. where D. dirty
10. A. bed B. get C. decide D. setting
Đáp án bài thi mẫu trong bài học Cấu tạo từ
1. Key: C
Hint: Từ cần điền là một danh từ (sau giới từ of) nên dependence và independence đều thỏa mãn yêu cầu. Bây giờ ta xét ý nghĩa của 2 từ dependence – sự phụ thuộc, independence – sự độc lập thì hiển nhiên đáp án là independence. “Cuộc kháng chiến giành độc lập của Mỹ thắng lợi năm 1776”
2. Key: B
Hint: Cả 4 phương án đều là danh từ được cấu tạo từ động từ break. Breakdown nói về sự hỏng hóc của máy móc, breakthrough là những phát kiến khoa học mới, breakup là sự đổ vỡ (trong gia đình), breakaway là sự chia ly, rời xa. Đáp án của câu chỉ có thể là breakthrough.
3. Key: C
Hint: Bổ nghĩa cho danh từ way là một tính từ nên economy và economically bị loại. Economic với nghĩa là “thuộc về kinh tế/mang tính chất kinh tế” còn economical lại nghĩa là “tiết kiệm”. Xét nghĩa của câu thì economical là phù hợp hơn cả. “Đốt than là một cách sưởi ấm cho ngôi nhà rất tiết kiệm”
4. Key: D
Hint: Từ few mang ý nghĩa phủ định chỉ một điều gì đó còn tồn tại rất ít từ đó ta suy ra được tính từ trong câu phải mang ý nghĩa phủ định - unexplored chính là đáp án của câu. (Nhận biết từ trái nghĩa qua tiền tố un).
5. Key: C
Hint: Từ hate (ghét bỏ) mang hàm nghĩa phủ định do đó danh từ (sau his) cũng phải mang ý nghĩa phủ định. Đáp án của câu là unreliability.
6. Key: D
Hint: Nghĩa của câu trên được dịch ra như sau: “Cảnh sát đang rất quan tâm đến sự biến mấtđột ngột của bức tranh giá trị đó”. Danh từ của động từ appear (xuất hiện) phải mang nghĩa ngược lại – disappearance là đáp án của câu. (Appear chỉ kết hợp được với tiền tố dis-).
7. Key: C
Hint: Từ điền vào ô trống là danh từ chỉ người dạng số nhiều – competitors là đáp án của câu.
8. Key: C
Hint: Các tổ hợp từ đều là dạng kết hợp của look – lookup (sự tra cứu), look-in (cái nhìn thoáng qua), outlook (viễn cảnh/ triển vọng trong tương lai), lookout không tồn tại dạng danh từ mà chỉ có cụm động từ to look out. Rõ ràng câu trên đề cập đến viễn cảnh trong tương lai nên đáp án sẽ là outlook.
9. Key: D
Hint: Bổ nghĩa cho động từ behave phải là một trạng từ tuy nhiên tell sb off có nghĩa là “rầy la, kể tội” thì trạng từ bổ trợ cho behave (nguyên nhân dẫn đến việc tell off) phải mang nghĩa phủ định – irresponsibly là đáp án của câu.
10. Key: D
Hint: Sau all là một danh từ số nhiều. Thông thường chúng ta nhận biết danh từ số nhiều bằng đuôi s tuy nhiên một số danh từ chỉ môn học (economics, politics...) có đuôi s nhưng không phải danh từ số nhiều. Đáp án của câu là politicians – chính trị gia.
Dạy con biết sống tình cảm hơn
Các cụ xưa đã có câu: “Dạy con từ thủa còn thơ”. Vì thế, việc dạy
con thành người sống tình cảm, biết thương yêu người khác phải bắt đầu
ngay từ khi còn nhỏ.
Trẻ được cha mẹ giáo dục về nhân cách, về lối sống thường hoà đồng, biết quan tâm và yêu thương mọi người. Tâm lý trẻ nhỏ rất thích được động viên, khen thưởng nên sẽ vận dụng triệt để những gì học được từ bố mẹ và những người xung quanh vào thực tế.
Bữa trước, mẹ ốm phải nghỉ làm. Chiều tan học về, thấy mẹ nằm ở giường, con chạy lại hỏi dồn: “Mẹ ơi, mẹ bị ốm à?”, “Để Tú sờ trán mẹ xem nhé.” Nói là làm, con lấy tay sờ trán mẹ rồi “chẩn đoán” luôn: “Trán mẹ nóng quá, mẹ bị sốt rồi”. Tiếp đến, con chạy ra tủ lạnh lấy miếng cao dán (loại mẹ vẫn dùng cho con mỗi khi bị sốt) rồi liến thoắng: “Để con dán cao cho mẹ nhé”... Mẹ đang mệt nhưng lúc đó mẹ vui lắm vì con gái mới hơn hai tuổi đã biết quan tâm, lo lắng cho mẹ.
Hàng ngày, ngoài giờ đi lớp thì cha mẹ là người gần gũi với con nhất.
Cha mẹ tận dụng thời gian quý báu này để chơi cùng con, trò chuyện thân
mật với con. Đôi khi chỉ là những câu hỏi thường ngày như: “Hôm nay con
đi học có vui không?” hay “Mẹ con mình cùng chơi trò này nhé”. Thấy
được quan tâm, được yêu thương, con cũng tự học cách quan tâm đến mọi
người xung quanh.
Có lần hai mẹ con đi siêu thị mua đồ. Con cứ hướng mẹ về phía hàng quần áo. Lựa chọn một hồi cũng mua được cái áo ấm cho con. Qua chỗ bán găng tất, giọng con vẫn còn ngọng nghịu: “Mẹ ơi, mẹ mua tất cho đố (bố) đi. Tất của bố bị tủng (thủng) rồi”.
Mẹ nghe xong tự nhiên thấy mình vô tâm quá. Vụ đó mẹ quyết thoáng mua cho bố mấy đôi liền. Con vui ra mặt, về nhà cứ giở ra ngắm nghía. Đến khi bố về, con chạy sà vào lòng bố khoe: “Tú mua tất cho đố đấy.” Mùa đông này bố cảm thấy thật ấm áp vì con gái đã biết để ý, chăm sóc bố từ những cái nhỏ nhất.
Nhiều lúc bố mẹ cũng tranh thủ thời gian bữa tối (khi cả nhà quây quần bên nhau) để dạy con trước khi ăn phải mời người lớn, phải chờ đến khi đông đủ mọi người mới được ăn (điều này rất khó áp dụng nhưng nhà mình làm được vì bé đã ăn bữa tối sơ cua ở lớp rồi).
Trong bữa cơm thì bố mẹ thường gắp đồ ngon cho con. Con thấy vậy cũng bắt chước làm theo. Những bài học đơn giản ấy con tỏ ra rất thích thú, và mỗi khi nhà có khách đều được con đem ra thể hiện.
Chủ nhật, bà nội lên chơi nhưng bố lại đi công tác nên hai mẹ con qua nhà bà ngoại. Đến bữa cơm, bà nội ngại ông bà thông gia nên không chịu gắp thức ăn. Thấy vậy, con liền giục bà: “Bà nội ơi, bà gắp chả nóng ăn đi”, rồi “Bà nội ơi, ớt cay đấy, bà đừng ăn vào.” Nghe cháu gái cứ ríu ra ríu rít cũng đủ làm bà ấm lòng.
Trẻ được cha mẹ giáo dục về nhân cách, về lối sống thường hoà đồng, biết quan tâm và yêu thương mọi người. Tâm lý trẻ nhỏ rất thích được động viên, khen thưởng nên sẽ vận dụng triệt để những gì học được từ bố mẹ và những người xung quanh vào thực tế.
Bữa trước, mẹ ốm phải nghỉ làm. Chiều tan học về, thấy mẹ nằm ở giường, con chạy lại hỏi dồn: “Mẹ ơi, mẹ bị ốm à?”, “Để Tú sờ trán mẹ xem nhé.” Nói là làm, con lấy tay sờ trán mẹ rồi “chẩn đoán” luôn: “Trán mẹ nóng quá, mẹ bị sốt rồi”. Tiếp đến, con chạy ra tủ lạnh lấy miếng cao dán (loại mẹ vẫn dùng cho con mỗi khi bị sốt) rồi liến thoắng: “Để con dán cao cho mẹ nhé”... Mẹ đang mệt nhưng lúc đó mẹ vui lắm vì con gái mới hơn hai tuổi đã biết quan tâm, lo lắng cho mẹ.
Có lần hai mẹ con đi siêu thị mua đồ. Con cứ hướng mẹ về phía hàng quần áo. Lựa chọn một hồi cũng mua được cái áo ấm cho con. Qua chỗ bán găng tất, giọng con vẫn còn ngọng nghịu: “Mẹ ơi, mẹ mua tất cho đố (bố) đi. Tất của bố bị tủng (thủng) rồi”.
Mẹ nghe xong tự nhiên thấy mình vô tâm quá. Vụ đó mẹ quyết thoáng mua cho bố mấy đôi liền. Con vui ra mặt, về nhà cứ giở ra ngắm nghía. Đến khi bố về, con chạy sà vào lòng bố khoe: “Tú mua tất cho đố đấy.” Mùa đông này bố cảm thấy thật ấm áp vì con gái đã biết để ý, chăm sóc bố từ những cái nhỏ nhất.
Nhiều lúc bố mẹ cũng tranh thủ thời gian bữa tối (khi cả nhà quây quần bên nhau) để dạy con trước khi ăn phải mời người lớn, phải chờ đến khi đông đủ mọi người mới được ăn (điều này rất khó áp dụng nhưng nhà mình làm được vì bé đã ăn bữa tối sơ cua ở lớp rồi).
Trong bữa cơm thì bố mẹ thường gắp đồ ngon cho con. Con thấy vậy cũng bắt chước làm theo. Những bài học đơn giản ấy con tỏ ra rất thích thú, và mỗi khi nhà có khách đều được con đem ra thể hiện.
Chủ nhật, bà nội lên chơi nhưng bố lại đi công tác nên hai mẹ con qua nhà bà ngoại. Đến bữa cơm, bà nội ngại ông bà thông gia nên không chịu gắp thức ăn. Thấy vậy, con liền giục bà: “Bà nội ơi, bà gắp chả nóng ăn đi”, rồi “Bà nội ơi, ớt cay đấy, bà đừng ăn vào.” Nghe cháu gái cứ ríu ra ríu rít cũng đủ làm bà ấm lòng.
Không dùng roi vẫn có thể dạy con ngoan
Hãy lắng nghe và cùng làm bạn với trẻ thay vì dùng vũ lực, bạn sẽ thấy rằng trẻ không bướng bỉnh và khó bảo như bạn nghĩ.
1. Hiểu con hơn
Hiểu con hơn chính là một trong những phương pháp giáo dục trẻ vô cùng hiệu quả. Cha mẹ không những phải nắm được các hoạt động của con khi ở nhà mà còn phải thường xuyên trao đổi với các thầy cô của trẻ ở trường lớp hay bảo mẫu để biết trẻ có những dấu hiệu hay thay đổi gì.
Tuy nhiên, việc hiểu con bằng cách nắm bắt các hoạt động cả về tâm lý lẫn thể chất của con khác với việc cha mẹ kiểm soát con quá chặt, dẫn đến hiện tượng con cảm thấy bí bách, tù túng và có tâm lý phản kháng.
2. Nhận thức giáo dục
Cùng với sự phát triển của xã hội, phương pháp giáo dục trẻ cũng cần phải có những thay đổi để phù hợp hơn.
Trước kia, người lớn thường dạy trẻ theo phương pháp truyền thống và sử dụng roi vọt như là hình phạt khi trẻ không vâng lời. Còn bây giờ, cha mẹ nên tìm hiểu xem vì sao con không nghe lời và từ đó giúp trẻ cởi mở hơn, tâm sự với cha mẹ nhiều hơn.
3. Kiên nhẫn lắng nghe con
Việc quát mắng hay dùng đòn roi sẽ chỉ khiến trẻ thêm chai lì và có tâm lý xa lánh bố mẹ. Các chuyên gia tâm lý cho biết, có rất nhiều trường hợp con sa chân vào con đường hư hỏng là do xuất phát từ cách giáo dục quá nghiêm khắc và phải hứng chịu vũ lực ngay từ khi còn bé.
Vì vậy, thay vì đánh mắng trẻ, người lớn phải học cách kiên nhẫn,
lắng nghe con nói và giúp con cởi bỏ áp lực, thoát khỏi tâm lý trầm cảm
và không còn những cảm xúc tiêu cực.
4. Tôn trọng trẻ
Nhiều cha mẹ thường quá lời khi mắng con. Những từ ngữ chua ngoa, sỉ nhục hoặc làm trầm trọng hóa khuyết điểm của con khiến đứa trẻ cảm thấy mình bị oan ức. Đôi khi, tội của cháu chỉ đáng một, cha mẹ nâng lên thành năm, thành mười. Trẻ sẽ tức giận và “trả thù” bằng cách không nghe lời.
Người lớn nên dành cho trẻ sự tôn trọng, như thế trẻ sẽ cảm thấy mình không bị lạc lõng, không cô đơn. Khi đó, trẻ sẽ hiểu rằng cha mẹ rất thương yêu mình và sẽ ngoan ngoãn, biết nghe lời hơn.
5. Nói đạo lý với trẻ
Ngay từ khi trẻ còn nhỏ, cha mẹ nên kể cho trẻ nghe những câu chuyện về đạo lý trong cuộc sống, có thể dùng cách cùng trẻ nói chuyện và lắng nghe sự chia sẻ, quan điểm riêng của cá nhân bé.
6. Cho trẻ trải nghiệm thực tế
Để cho trẻ thấy những tấm gương trong thực tế về việc nghe lời và không nghe lời cha mẹ. Khi nhìn thấy những sự việc trong thực tế, trẻ sẽ có nhận thức và biết mình phải làm gì.
7. “Thỏa hiệp” với trẻ
Người lớn không nên ép trẻ phải nghe và làm theo những yêu cầu của mình. Hãy để trẻ thực hiện những điều trẻ muốn trong phạm vi cho phép.
Hãy “thỏa hiệp” với trẻ, tránh dùng câu từ chối tuyệt đối. Ví dụ, khi trẻ muốn xem bộ phim nào đó, thay vì nói rằng “Con không được xem”, bạn hãy nói rằng “Con sẽ được xem phim khi con làm xong bài tập”.
Khi nghe nói như vậy, trẻ sẽ thấy rằng ý kiến của mình được tôn trọng.
8. Không nên dạy con lúc giận dữ
Khi tinh thần không được thoải mái hoặc đang tức giận, người lớn không nên trút hết lên đầu trẻ, tốt nhất hãy tránh “tranh thủ” lúc đang cáu mà mượn trẻ làm nơi để mình cởi bỏ cảm giác bực bội.
9. Chân thành với trẻ
Hãy chân thành với những mong muốn, kỳ vọng hay sự chia sẻ của trẻ. Bạn đừng bao giờ mang những mơ ước của trẻ ra làm trò đùa hoặc cười nhạo, như vậy trẻ sẽ bị tổn thương.
1. Hiểu con hơn
Hiểu con hơn chính là một trong những phương pháp giáo dục trẻ vô cùng hiệu quả. Cha mẹ không những phải nắm được các hoạt động của con khi ở nhà mà còn phải thường xuyên trao đổi với các thầy cô của trẻ ở trường lớp hay bảo mẫu để biết trẻ có những dấu hiệu hay thay đổi gì.
Tuy nhiên, việc hiểu con bằng cách nắm bắt các hoạt động cả về tâm lý lẫn thể chất của con khác với việc cha mẹ kiểm soát con quá chặt, dẫn đến hiện tượng con cảm thấy bí bách, tù túng và có tâm lý phản kháng.
2. Nhận thức giáo dục
Cùng với sự phát triển của xã hội, phương pháp giáo dục trẻ cũng cần phải có những thay đổi để phù hợp hơn.
Trước kia, người lớn thường dạy trẻ theo phương pháp truyền thống và sử dụng roi vọt như là hình phạt khi trẻ không vâng lời. Còn bây giờ, cha mẹ nên tìm hiểu xem vì sao con không nghe lời và từ đó giúp trẻ cởi mở hơn, tâm sự với cha mẹ nhiều hơn.
3. Kiên nhẫn lắng nghe con
Việc quát mắng hay dùng đòn roi sẽ chỉ khiến trẻ thêm chai lì và có tâm lý xa lánh bố mẹ. Các chuyên gia tâm lý cho biết, có rất nhiều trường hợp con sa chân vào con đường hư hỏng là do xuất phát từ cách giáo dục quá nghiêm khắc và phải hứng chịu vũ lực ngay từ khi còn bé.
4. Tôn trọng trẻ
Nhiều cha mẹ thường quá lời khi mắng con. Những từ ngữ chua ngoa, sỉ nhục hoặc làm trầm trọng hóa khuyết điểm của con khiến đứa trẻ cảm thấy mình bị oan ức. Đôi khi, tội của cháu chỉ đáng một, cha mẹ nâng lên thành năm, thành mười. Trẻ sẽ tức giận và “trả thù” bằng cách không nghe lời.
Người lớn nên dành cho trẻ sự tôn trọng, như thế trẻ sẽ cảm thấy mình không bị lạc lõng, không cô đơn. Khi đó, trẻ sẽ hiểu rằng cha mẹ rất thương yêu mình và sẽ ngoan ngoãn, biết nghe lời hơn.
5. Nói đạo lý với trẻ
Ngay từ khi trẻ còn nhỏ, cha mẹ nên kể cho trẻ nghe những câu chuyện về đạo lý trong cuộc sống, có thể dùng cách cùng trẻ nói chuyện và lắng nghe sự chia sẻ, quan điểm riêng của cá nhân bé.
6. Cho trẻ trải nghiệm thực tế
Để cho trẻ thấy những tấm gương trong thực tế về việc nghe lời và không nghe lời cha mẹ. Khi nhìn thấy những sự việc trong thực tế, trẻ sẽ có nhận thức và biết mình phải làm gì.
7. “Thỏa hiệp” với trẻ
Người lớn không nên ép trẻ phải nghe và làm theo những yêu cầu của mình. Hãy để trẻ thực hiện những điều trẻ muốn trong phạm vi cho phép.
Hãy “thỏa hiệp” với trẻ, tránh dùng câu từ chối tuyệt đối. Ví dụ, khi trẻ muốn xem bộ phim nào đó, thay vì nói rằng “Con không được xem”, bạn hãy nói rằng “Con sẽ được xem phim khi con làm xong bài tập”.
Khi nghe nói như vậy, trẻ sẽ thấy rằng ý kiến của mình được tôn trọng.
8. Không nên dạy con lúc giận dữ
Khi tinh thần không được thoải mái hoặc đang tức giận, người lớn không nên trút hết lên đầu trẻ, tốt nhất hãy tránh “tranh thủ” lúc đang cáu mà mượn trẻ làm nơi để mình cởi bỏ cảm giác bực bội.
9. Chân thành với trẻ
Hãy chân thành với những mong muốn, kỳ vọng hay sự chia sẻ của trẻ. Bạn đừng bao giờ mang những mơ ước của trẻ ra làm trò đùa hoặc cười nhạo, như vậy trẻ sẽ bị tổn thương.
2 kỹ năng cần thiết cho trẻ
Khi đứa con 2 tuổi của bạn vật lộn để tự mang giầy tất hoặc tự dùng thìa một cách cẩn thận để không rớt đồ ăn ra thảm, bạn rất tự hào: bé đang học cách tự lo cho mình. Nhưng trẻ còn cần nhiều hơn là chỉ biết tự chăm sóc bản thân để cơ thể vừa hạnh phúc vừa thành công trong cuộc sống.
1. Dạy bé biết cách... thất bại
Không ông bố, bà mẹ nào muốn con mình thất bại trong bất cứ một cuộc chơi nào. Nhưng học cách thất bại khi cố gắng làm việc gì đó lại chính là 1 kỹ năng quan trọng để hạnh phúc.
Khi con bạn còn rất nhỏ, lúc trẻ biết chơi những trò đầu tiên cùng với người khác, chúng cần trải nghiệm cảm giác thua. Bạn có thể làm mẫu là một kẻ thất bại vô tư và hào hứng nhiều lần. Hãy nói những điều như: “Ôi, con lại thắng mẹ rồi. Vui quá. Chúng ta chơi lại nào!”. Theo giáo sư tâm lý học Erika Rich, Trung tâm nghiên cứu và phát triển kỹ năng trẻ em Mỹ, mẹo nhỏ của bài học này là hãy để những bé còn rất nhỏ, chưa đi học được thắng nhiều hơn và giảm dần khi chúng lớn lên và đi học. Và khi thắng bé, bạn hãy nói: “Lần này mẹ thắng rồi nhưng con đã cố gắng hết sức”. Nếu bé thất vọng quá mức thì hãy nói rằng không ai thích thua cả nhưng thua là một phần của trò chơi. Người duy nhất thực sự thua là người không có một chút nỗ lực nào.
Lúc con lớn hơn: Vào khoảng 8 tuổi, hầu hết những đứa trẻ đều vượt qua sự thất bại dễ dàng hơn. Một lý do cơ bản mà trẻ vẫn không vượt qua được sự thất bại là: Giống như nhiều người lớn, những đứa trẻ ở tuổi đi học cũng có thể quá tập trung vào kết quả từ quá trình (như được chọn làm lớp trưởng, đứng đầu đội bóng hay đạt điểm số cao nhất…) mà không nhận ra những điều quan trọng có được trong suốt quá trình đó. Bài học bạn cần dạy con lúc này là giúp con dời mắt khỏi những phần thưởng mà ai cũng mong muốn để nhận ra “phần thưởng” khác như “Không thắng nhưng con có vui khi chơi ngoài đó với các bạn không?”. Bạn phải giúp bé hiểu rằng “không thắng không có nghĩa là chẳng có niềm vui nào cả”.
2. Biết đòi hỏi quyền lợi
Bạn có thể tự hào vì con thực sự là một đứa trẻ ngoan, bé luôn làm những gì mà cha mẹ cho phép. Những điều đó vẫn chưa đủ. Một đứa trẻ cần biết nói lên những nguyện vọng và quyền lợi, đồng thời phải biết nói lên những điều đó một cách tôn trọng và hiệu quả. Một cô bé, cậu bé có thể nêu ra những lí do thuyết phục về nguyên nhân bé cần một món đồ thay vì đòi hỏi bằng sự gào thét lớn lên và sẽ thành một người được người khác tôn trọng; một người muốn đàm phán, biết cách đàm phán và nhượng bộ.
Khi con bạn còn nhỏ: Cần dạy cho trẻ cách đòi hỏi một cách dễ chịu. Bắt đầu từ 2 tuổi, trẻ đã biết gào thét, giận dỗi, thậm chí ra yêu sách. Trẻ 2 tuổi không giỏi kiểm soát cảm xúc và không nhiều khả năng biết nói lên mong muốn của mình với thái độ lịch sự. Nếu con không bao giờ nói về mong muốn thực sự của mình mà chỉ làm theo lựa chọn của cha mẹ, hãy tích cực đòi hỏi con về điều mà bé muốn, tôn trọng sự lựa chọn phù hợp và mong muốn của trẻ. Với những yêu cầu mà bé nói ra một cách dễ chịu, hãy nói “ừ” khi nào có thể. Nhưng hãy từ chối và dạy con cách diễn đạt mong muốn một cách từ tốn nếu như bé ngào khóc.
Lúc con lớn hơn: Câu nói kiểu “Mẹ có ý này…” là cách dạy con đàm phán, thuyết phục người đối thoại. Bé biết cách lựa lời lẽ phù hợp để nói ra suy nghĩ mà không chướng tai. Một vài đứa trẻ rất sợ hỏi cha mẹ, thầy cô mà không bao giờ biết rằng chúng được chào đón làm như vậy. Vì thế, hãy tránh kiểu bề trên và ép mọi thứ phải theo ý bạn. Hãy nói: “Mẹ thấy hoàn toàn không được khi bỏ kế hoạch đến nhà ông bà để đưa con đi xem phim thay vì “Không, con dừng ngay cái kiểu vòi vĩnh ấy đi”. Lời ra lệnh sẽ không khuyến khích bé đưa ra những yêu cầu theo cách thức phù hợp.
7 KINH NGHIỆM HỌC TỐT TIẾNG ANH
Khi sử dụng tiếng Anh, bạn đừng sợ mắc lỗi. Nếu bạn không mắc lỗi, có nghĩa là bạn không học được gì. Thường thì khi bạn sẽ mắc những lỗi nho nhỏ khi nói tiếng Anh với người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng là những gì bạn rút ra sau khi mắc lỗi. Cũng giống như các em bé sẽ không thể tự bước đi được nếu như sợ vấp ngã.
1. Thích nói tiếng Anh và thoải mái khi nói
Khi sử dụng tiếng Anh, bạn đừng sợ mắc lỗi. Nếu bạn không mắc lỗi, có nghĩa là bạn không học được gì. Thường thì khi bạn sẽ mắc những lỗi nho nhỏ khi nói tiếng Anh với người nước ngoài. Nhưng điều quan trọng là những gì bạn rút ra sau khi mắc lỗi. Cũng giống như các em bé sẽ không thể tự bước đi được nếu như sợ vấp ngã.
2. Xác định xem bạn thích hợp với cách học nào
Nghiên cứu gần đây cho thấy rất nhiều người có cách học riêng mà mình yêu thích. Nếu bạn là người yêu thích hình ảnh, bạn có thể tạo ra một mối liên hệ giữa tiếng Anh và hình ảnh ví dụ bạn có thể xem phim có phụ đề tiếng Anh, cố gắng hình dung mình đang ở trong ngữ cảnh cần sử dụng tiếng Anh, liên tưởng các từ cần học với các hình ảnh.
Nếu bạn là người có sở thích nghe, thì bạn hãy nghe càng nhiều bài hát tiếng Anh càng tốt và xem các phim tiếng Anh. Còn nếu bạn là người có đầu óc phân tích, hãy dành nhiều thời gian để học ngữ pháp và so sánh tiếng Việt với tiếng Anh.
Dĩ nhiên, một người học tiếng Anh tốt sẽ dành thời gian cho tất cả những việc này. Đáng tiếc là trên thế giới, rất nhiều người vẫn bị dạy theo cách truyền thống là chỉ chú trọng vào ngữ pháp và nghe.
3. Học cách ghi nhớ
Bạn có thể luyện trí nhớ của mình qua rất nhiều sách hướng dẫn. Hầu hết tất cả các học sinh giỏi tiếng Anh đều rất coi trọng việc này.
4. Tạo ra cho mình một môi trường tiếng Anh
Một doanh nhân thành đạt người Tây Ban Nha đã học tiếng Anh bằng cách dán những mẩu giấy vàng khắp nơi trong nhà mình để đi tới đâu dù là xuống bếp pha một tách cà phê, vào nhà tắm cạo râu hay dùng điều khiển ti-vi để đổi kênh, anh đều nhìn thấy những từ ghi trên đó. Khi anh đã thuộc những từ này rồi, anh thay bằng những từ mới. Bằng cách này, ngày nào anh cũng học được khoảng 10 từ, cả 7 ngày trong tuần. Bạn hãy tranh thủ đọc, nghe và nói tiếng Anh ở mọi nơi, mọi lúc.
5. Hãy nối mạng
Một cô gái người ngoại thành Hà Nội. Cứ 3 lần một tuần, cô đi xe máy đến một nơi mà cô có thể nói tiếng Anh với những người bạn của mình tại Anh, Úc và Mỹ. Đó là một quán cà phê Internet có dịch vụ voice chat. Internet đã mang đến nhiều lợi ích cho người học ngoại ngữ. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều website hữu dụng để học ngữ pháp, từ vựng, phát âm và bây giờ, quan trọng hơn cả là: giao tiếp quốc tế.
6. Học từ vựng một cách có hệ thống
Xin bạn lưu ý rằng học tiếng Anh không chỉ đơn thuần là học ngữ pháp. Khi giao tiếp, bạn lựa chọn từ vựng, kết hợp chúng và tạo thành câu để biểu đạt ý kiến của mình. Khi học từ vựng, bạn hãy bố trí sổ ghi chép của mình sao cho hợp lý. Đừng liệt kê một dãy dài các từ, ngữ mới mà hãy chia sổ của bạn ra thành từng mục chẳng hạn:
Chủ đề: shopping, holidays, money vv…
Động từ và danh từ đi liền kề: do your homework, make a cake vv…
Động từ kép: to grow up, to fell off, to look after vv...
Ngữ cố định: on the other hand, in my opinion, by the way vv...
Thành ngữ: once in a blue moon, to be over the moon, out of the blue vv…
Ngữ có giới từ: at night, at the weekend, in March, in 2003 vv…..
7. Bạn hãy phấn khích lên
Bạn hãy khởi động và làm ngay những việc bạn có thể làm ngày hôm nay, đừng để đến ngày mai. Hồi còn ở London, tôi có một cô bạn người Thái Lan theo học ngành thiết kế thời trang. Cô ấy nói tiếng Anh rất siêu. Từ khi cô 15 tuổi, cô đã tự xác định mục đích và ước mơ của mình là học ngành thời trang ở London. Cô đã tìm hiểu mức điểm IELTS cần thiết để có thể vào trường mà cô mơ ước rồi bắt tay vào học tiếng Anh ngay lập tức. Đến năm 19 tuổi, nghĩa là đã đủ tuổi để được nhận vào học, thì cô đã sẵn sàng mọi thứ. Sự khởi đầu sớm của cô quả là khôn ngoan vì một năm sau, khi khoá học kết thúc, cô trở về Thái Lan thì lúc đó bạn bè cô vẫn đang cần mẫn học tiếng Anh chờ thời điểm đi nước ngoài. Bây giờ thì cô ấy đã là một người nói tiếng Anh thành thạo, có trình độ và thành đạt
20 thủ thuật để nội dung của bạn đến với cộng đồng Facebook
20 thủ thuật để nội dung của bạn đến với cộng đồng Facebook
- Đăng một loạt các nội dung có sức thu hút để tăng sự tương tác, từ đó nâng cao số điểm mối quan hệ của bạn.
- Tập trung vào các nội dung tích cực và mang tính hài hước trên Facebook.
- Nói về Facebook - Facebook là số một về việc chia sẻ hầu hết các chủ đề trên Facebook. *
- Hồi đáp các bình luận của người hâm mộ trong nội dung của bạn để tăng số lượng tương tác cho mỗi bài.
- Trả lời các ý kiến của người hâm mộ khi họ đăng bài trên tường của bạn để tăng điểm số mối quan hệ của bạn.
- Thử nghiệm với nhiều bài viết nhằm mục tiêu nào đó để có được một số thông tin phản hồi cao hơn (tỷ lệ phần trăm hiển thị mà biến thành tương tác).
- Đăng bài thường xuyên, nhưng không quá (nhiều hơn một lần một ngày) để đưa đến cho mỗi bài một cơ hội tốt để tạo động lực.
- Đăng Nội dung ngoài giờ làm việc chính - người dùng Facebook tương tác nhiều hơn khi họ hết giờ làm việc
- Đưa hình ảnh vào bài đăng trên blog của bạn để tạo ra một bài bắt mắt hơn.
- Đừng quên để viết một đoạn mô tả hấp dẫn cho bất kỳ link nào của bạn đăng, vì Facebook tự động liên kết từ link này qua các link khác
- Sử dụng các link để chia sẻ các bài viết trên blog của bạn và các trang đích đến để khuyến khích người dùng đăng trực tiếp nội dung của bạn.
- Tích hợp thêm các trang đích đến trong Facebook để có được tỷ lệ chuyển đổi cao hơn, Facebookers không thích rời khỏi Facebook
- Đăng video trực tiếp thay vì liên kết đến bài viết có video, do đó người dùng có thể xem video mà không cần thoát khỏi Facebook
- Để liên kết trong phần mô tả của video khi đăng video trên facebook để có được lượng truy cập trở lại trang web của bạn
- Chia sẻ hình ảnh có đánh dấu chủ quyền hình ảnh riêng bạn để có được sự phân tích tốt hơn, chú ý có thể sử dụng Flickr tích hợp với tài khoản Facebook của bạn.
- Chia sẻ ảnh với các tương tác tối đa, đăng hình ảnh trực tiếp lên Facebook
- Không được sử dụng ngôn ngữ phức tạp hay biệt ngữ trong bài viết của mình để tránh những phản ứng gay gắt.
- Đặt câu hỏi và yêu cầu người hâm mộ của bạn cho ý kiến cụ thể.
- Sử dụng Facebook Insights để đo lường nội dung thực hiện là cách tốt nhất về một trang cụ thể
- Khuyến khích các nội dung người dùng tạo ra, bao gồm cả hình ảnh do người dùng tạo ra, ý kiến, hoặc liên kết.
-
-
-
-
-
-
-
-
-
dich vu seo mu trang, dich vu seo mu trang tphcm, dich vu seo mu trang quan 1, dich vu seo mu trang quan 2 , dich vu seo mu trang quan 3, dich vu seo mu trang quan 4, dich vu seo mu trang quan 5, dich vu seo mu trang quan 6, dich vu seo mu trang quan 7, dich vu seo mu trang quan 8, dich vu seo mu trang quan 9, dich vu seo mu trang quan 10, dich vu seo mu trang quan 11, dich vu seo mu trang quan 12, dich vu seo mu trang quan thu duc, dich vu seo mu trang quan phu nhuan, dich vu seo mu trang quan binh thanh, dich vu seo mu trang quan go vap, dich vu seo mu trang quan tan binh, dich vu seo mu trang quan tan phu, dich vu seo mu trang quan binh tan, dich vu seo mu trang huyen hoc mon, dich vu seo mu trang huyen cu chi, dich vu seo mu trang huyen binh chanh, dich vu seo mu trang huyen nha be, dich vu seo mu trang huyen can gio
Subscribe to:
Posts (Atom)